Trong kỳ thi THPT đất nước 2015 gần đây, trung tâm gia sư hà nội mang phổ điểm tụ hội ở mức 2-3,5 điểm, Tiếng Anh là môn với kết quả thi tốt nhất trong số 8 môn thi.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển thừa nhận kết quả này phản ánh 1 phần những bất cập trong chất lượng dạy học tiếng Anh ở bậc phổ biến tổng thể.

Nặng ngữ pháp, thiếu thực hiện, ko tạo được hứng khởi Tìm hiểu ngôn ngữ mới… cho học sinhPhân tích của rộng rãi người về chương trình tiếng Anh hiện tại của Việt Nam.

Bài viết này tập trung so sánh một vài điểm để làm cho rõ sự dị biệt giữa ngôn ngữ thứ 2 và ngoại ngữ.

tiếng nói thứ 2 và ngoại ngữ khác nhau như thế nào? (Ảnh: sggp.org.vn)

Trong 1 môi trường mà tiếng nói được coi là ngôn ngữ thứ 2, ngôn ngữ được tiêu dùng thường xuyên, liên tục trong đời sống, người đề cập sử dụng tiếng nói trong những tình huống giao du tự dưng, hàng ngày của đời sống.

tiếng nói thứ 2 mang thể được hấp thu không cần thông qua việc học (ngôn ngữ) tại lớp học.

Trong môi trường mà tiếng nói được coi là ngoại ngữ, tiếng nói không được sử dụng thường xuyên trong môi trường của người kể mà chỉ được xem là 1 môn học. Người đề cập ít/hoặc ko có cơ hội được sử dụng ngôn ngữ trong các cảnh huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày.

BẢNG SO SÁNH một vài nguyên tố GIỮA tiếng nói THỨ hai VÀ NGOẠI NGỮ:

STT ngôn ngữ thứ 2 Ngoại ngữ
một thời gian hầu hết thời kì dùng để hấp thụ ngôn ngữ thời kì học ngôn ngữ phụ thuộc vào phân bổ tại thời khóa biểu của nhà trường
2 Đầu vào Rộng, không/ít sở hữu sự chọn lọc hay bắt buộc sự chọn lọc, phân chiếc
3 Vai trò của người dạy chỉ dẫn người học tự khám phá phê chuẩn bổ trợ tại lớp học hướng dẫn cụ thể/chi tiết/
4 Kỹ năng giao tiếp (nghe-nói) là quan trọng nhất, quyết định sự thành công/thất bại của người học. Phụ thuộc vào nhu cầu người học/định hướng của khóa học để xác định kỹ năng cần học.
5 Động lực người học Rất mong muốn tiếp nhận/bắt buộc tiếp thụ ngôn ngữ yếu tố then chốt/sống còn trong đời sống hàng ngày Mong muốn tiêu dùng mang các tiêu chí ngắn han/dài hạn
6 Độ tuổi bắt đầu từ thường nhật mang lứa tuổi cấp một, phụ thuộc vào chương trình học.
7 thời kỳ tiếp nhận/kết quả[1] tương tự giai đoạn tiếp thu tiếng mẹ đẻ (Tiếp nhận ngôn ngữ duyệt y quá trình vô thức, không bị buộc ràng bởi các định nghĩa ngữ pháp – đúng – sai).

liên tiếp nâng cao cường vốn từ vị cho các tình huống cụ thể.

Hướng tới khả năng giao tiếp trong các cảnh huống thực của đời sống.

Thành công hay thất bại của việc hấp thu ảnh hưởng trực tiếp đến đời thực của người tiêu dùng.

Học ngôn ngữ phê chuẩn hướng dẫn trực tiếp về những quy tắc, định nghĩa, đúng – sai.

Coi trọng năng lực về tiếng nói học hơn là kỹ năng giao thiệp. Khả năng ngữ pháp phải chăng hơn giao thiệp.

Hiệu quả giao tiếp đạt được sau rộng rãi năm học ko đồng đều, sự thành công hay thất bại trong việc học ít/không tác động đến đời sống của người học.

8 tác phong người học tha hồ, khi không, luôn mong muốn và sẵn sàng giao tiếp.

Thước đo thành công tính bằng sự trôi chảy trong khả năng giao thiệp

thông minh, kiên nhẫn và kỹ năng học thuộc, ghi nhớ phải chăng.

Thước đo thành công được tính bằng điểm học tập chuẩn y những bài kiểm tra/chứng chỉ.

9 Môi trường dùng nhiều, được coi là tiếng nói chính thức thứ hai sau tiếng mẹ đẻ (trong những văn bản pháp quy, trong đời sống phường hội, sử dụng để giảng dạy những môn học trong nền giáo dục…) chính yếu trong phạm vi trường học, được coi là 1 môn học trong chương trình.

[1] Sự khác nhau giữa thời kỳ hấp thu tiếng nói và học tiếng nói

thu nhận tiếng nóithời kỳ vô thức, không chủ động: Đứa trẻ thu nạp tiếng mẹ đẻ, công nhân thu nạp tiếng nước khác trong thời kỳ sinh sống và làm cho việc tại quốc gia chậm tiến độ. công đoạn tiếp thu đông đảo, không mang sự chọn lựa.

Học tiếng nóiquá trình tiếp thu với ý thức và chủ động của người học chuẩn y những bài học (lessons), hội tụ vào các nội dung đã được định hướng trong khoảng ban đầu (grammatical features of that language, skills).

Nguồn Thanh Xinh tổng hợp internet